Câu 1 · Tự luận
PHẦN I — ĐỌC HIỂU (5,0 điểm). Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi 1–5:
Chiếc la bàn của cha
Tôi tên là Khải, mười tám tuổi, lớn lên ở một làng chài ven biển miền Trung. Tờ giấy báo trúng tuyển đại học của tôi đã nằm trên bàn thờ nhà ba hôm nay, ngay bên cạnh chiếc la bàn bằng đồng của cha. Giấy báo thì mới tinh, còn chiếc la bàn đã xỉn màu, mặt kính xước mờ sau hơn ba mươi năm lênh đênh cùng cha trên những chuyến tàu xa. Nhìn hai vật đặt cạnh nhau, tôi cứ thấy lòng mình như mặt biển trước giờ đổi gió: không yên.
Cha tôi mất trong cơn bão số chín cách đây ba năm, khi tôi vừa vào lớp mười. Từ đó, mẹ gánh cả nhà trên đôi vai gầy: một sạp cá nhỏ ở chợ huyện, hai đứa con đang tuổi ăn học. Tàu của cha bán đi trả nợ, chỉ còn chiếc la bàn này được người bạn chài ôm về trao lại cho mẹ, bảo rằng hôm tàu gặp nạn, cha vẫn cầm nó trong tay đến phút cuối. Mẹ lau chùi cẩn thận rồi đặt lên bàn thờ, như đặt cả một đời đi biển của cha ở đó.
Giấy báo trúng tuyển vừa về, xóm chài xôn xao. Mẹ mừng đến rơi nước mắt, đi khoe khắp chợ. Nhưng chú Bảy — bạn chài cũ của cha, nay là chủ tàu lớn nhất xóm — sang nhà, ngồi uống cạn chén trà rồi nói thẳng: 'Cho nó theo tàu của chú. Nghề biển bây giờ không đói được. Học bốn năm ra trường, xin việc cũng đỏ mắt, lương tháng đầu chưa bằng một chuyến đi khơi của chú.' Mẹ im lặng hồi lâu rồi bảo: 'Tôi chỉ muốn nó có con chữ, đời nó đỡ lênh đênh như đời cha nó.' Tôi đứng giữa hai lời nói ấy, thấy mình như con thuyền neo giữa hai dòng nước ngược.
Mấy hôm liền, làng chài chia làm hai phe trong câu chuyện bên mâm cơm: người bảo đi biển mới có ăn, kẻ bảo thời buổi này không có con chữ thì mãi chỉ bán sức cho sóng gió. Tối nào mẹ cũng ngồi vá lưới thuê dưới ngọn đèn dầu, đôi tay thoăn thoắt mà mắt thỉnh thoảng lại ngước nhìn lên bàn thờ, nơi tờ giấy báo và chiếc la bàn nằm cạnh nhau, im lặng như hai người đang chờ tôi lên tiếng trước.
Đêm cuối trước hạn xác nhận nhập học, tôi không ngủ được. Tôi lấy chiếc la bàn xuống, mở nắp, nhìn cây kim nhỏ run run một lúc rồi dừng lại, chỉ về hướng bắc như nó đã chỉ suốt ba mươi năm nay. Tôi chợt nhớ một đêm năm tôi mười ba tuổi, cha cho tôi theo tàu ra khơi lần đầu. Biển tối đen, bốn bề không một ánh đèn, tôi hoảng sợ níu lấy áo cha. Cha đặt chiếc la bàn vào tay tôi, nói: 'La bàn chỉ cho con hướng bắc, chứ nó không đi thay con được. Đường đi là do chân mình bước, con ạ. Miễn là bước đi mà không lạc mất mình, thì biển rộng đến đâu cũng có lối về.'
Sáng hôm sau, tôi đặt chiếc la bàn vào ngăn ngoài cùng của ba lô, khóa lại cẩn thận, rồi thưa với mẹ: 'Con đi học, mẹ ạ. Nhưng con đi không phải để bỏ biển. Con đi để học cách đưa những chuyến tàu của xóm mình đi xa hơn, về bờ an toàn hơn.' Mẹ nhìn tôi rất lâu, rồi gật đầu, dúi vào tay tôi gói cá khô và mấy đồng tiền lẻ cuộn trong chiếc khăn tay. Chiếc xe khách chuyển bánh lúc biển vừa hửng sáng. Tôi ngoái nhìn lại làng chài khuất dần sau rặng phi lao, tay chạm vào ngăn ba lô nơi có chiếc la bàn của cha. Kim của nó vẫn chỉ về hướng bắc. Còn đường đi của tôi, từ hôm nay, là do chính chân mình bước.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn ClassOn sáng tác mới 100%, chỉ dùng cho đề thi này)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể và phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.
Chiếc la bàn của cha
Tôi tên là Khải, mười tám tuổi, lớn lên ở một làng chài ven biển miền Trung. Tờ giấy báo trúng tuyển đại học của tôi đã nằm trên bàn thờ nhà ba hôm nay, ngay bên cạnh chiếc la bàn bằng đồng của cha. Giấy báo thì mới tinh, còn chiếc la bàn đã xỉn màu, mặt kính xước mờ sau hơn ba mươi năm lênh đênh cùng cha trên những chuyến tàu xa. Nhìn hai vật đặt cạnh nhau, tôi cứ thấy lòng mình như mặt biển trước giờ đổi gió: không yên.
Cha tôi mất trong cơn bão số chín cách đây ba năm, khi tôi vừa vào lớp mười. Từ đó, mẹ gánh cả nhà trên đôi vai gầy: một sạp cá nhỏ ở chợ huyện, hai đứa con đang tuổi ăn học. Tàu của cha bán đi trả nợ, chỉ còn chiếc la bàn này được người bạn chài ôm về trao lại cho mẹ, bảo rằng hôm tàu gặp nạn, cha vẫn cầm nó trong tay đến phút cuối. Mẹ lau chùi cẩn thận rồi đặt lên bàn thờ, như đặt cả một đời đi biển của cha ở đó.
Giấy báo trúng tuyển vừa về, xóm chài xôn xao. Mẹ mừng đến rơi nước mắt, đi khoe khắp chợ. Nhưng chú Bảy — bạn chài cũ của cha, nay là chủ tàu lớn nhất xóm — sang nhà, ngồi uống cạn chén trà rồi nói thẳng: 'Cho nó theo tàu của chú. Nghề biển bây giờ không đói được. Học bốn năm ra trường, xin việc cũng đỏ mắt, lương tháng đầu chưa bằng một chuyến đi khơi của chú.' Mẹ im lặng hồi lâu rồi bảo: 'Tôi chỉ muốn nó có con chữ, đời nó đỡ lênh đênh như đời cha nó.' Tôi đứng giữa hai lời nói ấy, thấy mình như con thuyền neo giữa hai dòng nước ngược.
Mấy hôm liền, làng chài chia làm hai phe trong câu chuyện bên mâm cơm: người bảo đi biển mới có ăn, kẻ bảo thời buổi này không có con chữ thì mãi chỉ bán sức cho sóng gió. Tối nào mẹ cũng ngồi vá lưới thuê dưới ngọn đèn dầu, đôi tay thoăn thoắt mà mắt thỉnh thoảng lại ngước nhìn lên bàn thờ, nơi tờ giấy báo và chiếc la bàn nằm cạnh nhau, im lặng như hai người đang chờ tôi lên tiếng trước.
Đêm cuối trước hạn xác nhận nhập học, tôi không ngủ được. Tôi lấy chiếc la bàn xuống, mở nắp, nhìn cây kim nhỏ run run một lúc rồi dừng lại, chỉ về hướng bắc như nó đã chỉ suốt ba mươi năm nay. Tôi chợt nhớ một đêm năm tôi mười ba tuổi, cha cho tôi theo tàu ra khơi lần đầu. Biển tối đen, bốn bề không một ánh đèn, tôi hoảng sợ níu lấy áo cha. Cha đặt chiếc la bàn vào tay tôi, nói: 'La bàn chỉ cho con hướng bắc, chứ nó không đi thay con được. Đường đi là do chân mình bước, con ạ. Miễn là bước đi mà không lạc mất mình, thì biển rộng đến đâu cũng có lối về.'
Sáng hôm sau, tôi đặt chiếc la bàn vào ngăn ngoài cùng của ba lô, khóa lại cẩn thận, rồi thưa với mẹ: 'Con đi học, mẹ ạ. Nhưng con đi không phải để bỏ biển. Con đi để học cách đưa những chuyến tàu của xóm mình đi xa hơn, về bờ an toàn hơn.' Mẹ nhìn tôi rất lâu, rồi gật đầu, dúi vào tay tôi gói cá khô và mấy đồng tiền lẻ cuộn trong chiếc khăn tay. Chiếc xe khách chuyển bánh lúc biển vừa hửng sáng. Tôi ngoái nhìn lại làng chài khuất dần sau rặng phi lao, tay chạm vào ngăn ba lô nơi có chiếc la bàn của cha. Kim của nó vẫn chỉ về hướng bắc. Còn đường đi của tôi, từ hôm nay, là do chính chân mình bước.
(Ngữ liệu do nhóm biên soạn ClassOn sáng tác mới 100%, chỉ dùng cho đề thi này)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể và phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.