Lớp 12 là năm học quyết định: vừa phải thi cuối kì 1, vừa phải hướng tới kì thi tốt nghiệp THPT. Nhiều bạn nghĩ "Ngữ văn là môn học thuộc, cứ học tủ vài bài là qua", nhưng với chương trình GDPT 2018, đề thi Ngữ văn đã thay đổi căn bản: ngữ liệu 100% nằm ngoài sách giáo khoa, 100% tự luận, đòi hỏi các bạn phải thực sự hiểu kiến thức, biết vận dụng kĩ năng đọc hiểu và viết đã học vào văn bản mới. Học vẹt, học tủ không còn đất sống.
Bài viết này giúp các bạn nắm chắc toàn bộ kiến thức học kì 1 môn Ngữ văn 12 theo sách Kết nối tri thức với cuộc sống (bộ sách thống nhất toàn quốc từ năm học 2026–2027): cấu trúc đề thi mới nhất (đối chiếu đề thi thật các trường năm 2024–2025), phạm vi 5 bài học kì 1, tóm tắt kiến thức trọng tâm từng bài, và đặc biệt là 2 đề thi mẫu hoàn chỉnh có đáp án giải thích chi tiết từng câu như thầy cô đang chữa bài. Cuối bài còn có phương pháp làm bài, những lỗi mất điểm oan, lịch ôn tập 2 tuần và phần hỏi đáp. Hãy đọc kĩ và làm thử 2 đề mẫu nghiêm túc như thi thật nhé!

Cấu trúc đề thi học kì 1 Ngữ văn 12 năm 2026
Đối chiếu các đề kiểm tra cuối kì 1 môn Ngữ văn 12 năm học 2024–2025 của các trường THPT (Kẻ Sặt, Nho Quan B – Ninh Bình, Lê Hồng Phong – Đắk Lắk), cấu trúc phổ biến nhất hiện nay như sau:
| Phần | Nội dung | Điểm | Thời gian gợi ý |
|---|---|---|---|
| Phần I – Đọc hiểu | 1 ngữ liệu ngoài SGK (thơ hoặc văn xuôi) + 4–6 câu hỏi tự luận từ nhận biết đến vận dụng cao | 4,0 điểm | 25–30 phút |
| Phần II – Viết | Câu 1: đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ (2,0 điểm) Câu 2: bài văn nghị luận khoảng 500–600 chữ (4,0 điểm) |
6,0 điểm | 60–65 phút |
| Tổng | 100% tự luận, ngữ liệu 100% ngoài SGK | 10,0 điểm | 90 phút |
Lưu ý về biến thể: một số trường (ví dụ THPT Trần Hưng Đạo – Quảng Nam) dùng biến thể Đọc hiểu 4 câu × 1,0 điểm với đoạn văn nghị luận 150 chữ ở phần Viết. Nhưng khung 4,0 + 6,0 (đoạn 200 chữ + bài 500–600 chữ) là phổ biến nhất. Các bạn nên hỏi thầy cô trường mình để biết chính xác, nhưng ôn theo khung 4 + 6 là an toàn nhất.
Điểm mới quan trọng so với các lớp dưới: ở lớp 12, câu bài văn nghị luận (4,0 điểm) thường yêu cầu một trong hai dạng đã học kĩ trong học kì 1 — nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (kĩ năng Bài 2) hoặc nghị luận xã hội về vấn đề tuổi trẻ (kĩ năng Bài 3). Nắm chắc hai dạng này là nắm chắc một nửa số điểm của bài thi.
Phạm vi kiến thức học kì 1: học đến đâu, thi đến đó
Theo sách Ngữ văn 12 tập 1 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống và phân phối chương trình đã được kiểm chứng qua nhiều nguồn, học kì 1 các bạn học 5 bài đầu tiên (tập 2 gồm Bài 6 Hồ Chí Minh, Bài 7 Sự thật trong tác phẩm kí… thuộc học kì 2):
| Bài | Tên bài | Văn bản đọc chính | Kĩ năng Viết trọng tâm |
|---|---|---|---|
| Bài 1 | Khả năng lớn lao của tiểu thuyết | Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (Vũ Trọng Phụng); Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) | NL so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện |
| Bài 2 | Những thế giới thơ | Cảm hoài (Đặng Dung); Tây Tiến (Quang Dũng); Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo) | NL so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ |
| Bài 3 | Lập luận trong văn bản nghị luận | Nhìn về vốn văn hoá dân tộc (Trần Đình Hượu); Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu) | NL về vấn đề liên quan đến tuổi trẻ |
| Bài 4 | Yếu tố kì ảo trong truyện kể | Hải khẩu linh từ (Đoàn Thị Điểm); Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) | NL về vay mượn – cải biến – sáng tạo |
| Bài 5 | Tiếng cười của hài kịch | Nhân vật quan trọng (Gô-gôn); Giấu của (Lộng Chương) | Viết báo cáo nghiên cứu |
Thực hành tiếng Việt từng bài (hay ra ở câu đọc hiểu mức nhận biết – thông hiểu): Bài 1 – biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ (đặc điểm và tác dụng); Bài 2 – các yếu tố nhạc tính, hình ảnh thơ; Bài 3 – luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản nghị luận; Bài 4 – yếu tố kì ảo và tác dụng; Bài 5 – ngôn ngữ đối thoại, thủ pháp gây cười trong hài kịch.
Tóm tắt kiến thức trọng tâm 5 bài
Bài 1. Khả năng lớn lao của tiểu thuyết
Tri thức thể loại: tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn, có khả năng phản ánh hiện thực đời sống một cách toàn diện qua cốt truyện, nhân vật, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ. Nhân vật tiểu thuyết được khắc hoạ qua hành động, lời nói, tâm lí, mối quan hệ với các nhân vật khác.
Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng): đoạn trích thuộc chương truyện trào phúng, khắc hoạ Xuân Tóc Đỏ – kẻ hạ lưu bỗng chốc thành "cứu tinh dân tộc" nhờ sự lố bịch của xã hội thượng lưu. Nghệ thuật trào phúng sắc sảo: nói mỉa, nghịch ngữ, cường điệu, tình huống lố bịch. Giá trị: phơi bày sự giả dối, rởm đời của xã hội thực dân nửa phong kiến.
Nỗi buồn chiến tranh (trích – Bảo Ninh): tiểu thuyết viết về chiến tranh từ điểm nhìn bên trong của người lính (Kiên), với dòng hồi ức đứt nối, ám ảnh. Nghệ thuật: kết cấu dòng ý thức, giọng điệu trầm buồn, suy tư. Giá trị nhân văn: khắc hoạ nỗi đau, sự mất mát của con người trong chiến tranh, khát vọng hoà bình.
So sánh nhanh hai trích đoạn: cùng viết về con người Việt Nam nhưng Số đỏ dùng tiếng cười trào phúng để phê phán, Nỗi buồn chiến tranh dùng giọng trầm chiêm nghiệm để sẻ chia. Một bên là cái nhìn từ ngoài vào (khách quan, mỉa mai), một bên là cái nhìn từ trong ra (chủ quan, đồng cảm).
Bài 2. Những thế giới thơ
Tri thức thể loại: thơ là hình thức nghệ thuật ngôn từ giàu nhạc tính, hình ảnh, cảm xúc. Đọc hiểu thơ cần chú ý: thể thơ, nhân vật trữ tình, hình ảnh thơ, biện pháp tu từ, mạch cảm xúc, tứ thơ (ý tưởng chủ đạo xuyên suốt bài thơ).
Cảm hoài (Đặng Dung): bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, nỗi niềm của vị tướng cuối trần trước vận nước suy vong. Hình ảnh trung tâm: "việc đời bối rối", "tuổi già", "mài gươm dưới trăng" — khát vọng lập công dang dở. Giọng điệu bi tráng.
Tây Tiến (Quang Dũng): nỗi nhớ đồng đội và thiên nhiên Tây Bắc. Hình ảnh nổi bật: "dốc lên khúc khuỷu", "sương lấp đoàn quân mỏi", "Mường Lát hoa về trong đêm hơi", "áo bào thay chiếu anh về đất". Bút pháp lãng mạn xen hiện thực, giọng điệu hào hùng mà tài hoa.
Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo): thơ tự do hiện đại, tưởng niệm người nghệ sĩ Lor-ca. Hình ảnh "tiếng đàn bọt nước", "áo choàng đỏ gắt", "vầng trăng chếnh choáng" — sự vỡ oà, đứt gãy của cái đẹp. Thủ pháp tượng trưng, siêu thực.
Điểm so sánh hay dùng: Cảm hoài (trung đại, ước lệ, bi tráng) với Tây Tiến (hiện đại, lãng mạn, hào hoa) — cùng viết về người lính/chí sĩ nhưng khác nhau về thời đại, bút pháp và cảm hứng chủ đạo.
Bài 3. Lập luận trong văn bản nghị luận
Tri thức kiểu văn bản: văn bản nghị luận gồm luận đề (vấn đề bàn luận), luận điểm (ý kiến cụ thể), lí lẽ (lí do) và bằng chứng (dẫn chứng thực tế). Các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận.
Nhìn về vốn văn hoá dân tộc (Trần Đình Hượu): luận đề — đặc điểm của vốn văn hoá dân tộc Việt Nam. Luận điểm chính: văn hoá Việt Nam thiên về cụ thể, thiết thực, linh hoạt nhưng hạn chế về chiều sâu triết lí, hệ thống. Thao tác: phân tích, so sánh (với văn hoá phương Tây, Trung Hoa), dẫn chứng lịch sử – văn hoá.
Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu): luận đề — sáng tạo là năng lực cốt lõi của con người hiện đại. Lí lẽ: sáng tạo bắt nguồn từ tri thức + khát vọng + dũng khí vượt qua lối mòn. Thao tác: giải thích, chứng minh bằng dẫn chứng khoa học và thực tiễn.
Ứng dụng làm bài: khi viết NLXH, các bạn phải tự xây dựng hệ thống luận điểm – lí lẽ – bằng chứng như hai văn bản mẫu. Bằng chứng nên lấy từ đời sống thực tế, tấm gương người thật việc thật, tránh dẫn chứng chung chung, sáo rỗng.
Bài 4. Yếu tố kì ảo trong truyện kể
Tri thức thể loại: yếu tố kì ảo là những chi tiết phi thực tế, hoang đường (thần linh, ma quỷ, phép màu) được đưa vào truyện kể. Tác dụng: tạo sức hấp dẫn, thể hiện ước mơ, khát vọng của con người, tăng sức biểu đạt cho tư tưởng tác phẩm.
Hải khẩu linh từ (Đoàn Thị Điểm): truyện truyền kì, yếu tố kì ảo — Linh Từ Quốc Mẫu hiển linh, sóng gió nổi lên trừng phạt kẻ ác. Tác dụng: thể hiện niềm tin vào công lí, nhân quả; ca ngợi người phụ nữ đức hạnh, trừng trị kẻ bội bạc.
Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp): truyện ngắn hiện đại, yếu tố kì ảo — cuộc gặp gỡ kì lạ giữa ông Diểu và con khỉ, thiên nhiên như có linh hồn. Tác dụng: thức tỉnh lương tri con người trước thiên nhiên, phê phán sự tàn phá môi trường.
Bài 5. Tiếng cười của hài kịch
Tri thức thể loại: hài kịch là thể loại kịch dùng tiếng cười để phê phán cái xấu, cái lố bịch. Thủ pháp gây cười: tình huống trớ trêu, ngôn ngữ đối thoại mâu thuẫn, hành động lố bịch, nói mỉa. Tiếng cười trong hài kịch mang tính trừng phạt, giáo dục.
Nhân vật quan trọng (trích Quan thanh tra – Gô-gôn): tình huống nhầm lẫn Khlé-xta-cốp thành quan thanh tra, cả bộ máy quan lại xu nịnh, đút lót. Tiếng cười trào phúng sâu cay vào thói tham nhũng, dối trá của quan chức.
Giấu của (trích Quẫn – Lộng Chương): vở hài kịch dân gian Trung Quốc, mâu thuẫn giữa lòng tham và sự ngốc nghếch. Tiếng cười hồn nhiên, giải trí nhưng cũng phê phán thói keo kiệt.
Điểm khác biệt: hài kịch Gô-gôn mang tính xã hội – chính trị sâu sắc; hài kịch dân gian mang tính giải trí, giáo dục nhẹ nhàng. Cả hai đều dùng tiếng cười để "chữa bệnh" cho xã hội.
Đề thi mẫu số 1 (cấu trúc 4,0 + 6,0)
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 1
Môn: Ngữ văn 12 — Kết nối tri thức
Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
THU VỀ TRÊN PHỐ NHỎ
(Thơ sáng tác phục vụ ôn tập — nằm ngoài sách giáo khoa)
Thu về trên phố nhỏ
Lá vàng rơi đầy sân
Gió heo may se lạnh
Nhớ về thời áo trắng
Ngày xưa chung trường cũ
Bạn bè giờ nơi đâu
Người đi xây đất mới
Kẻ ở lại quê sâu
Chỉ còn hàng phượng vĩ
Đứng lặng giữa thu vàng
Như nhắc người lữ khách
Đừng quên bến đò ngang
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên. Nêu dấu hiệu nhận biết.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả khung cảnh mùa thu trong khổ thơ thứ nhất.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ: "Chỉ còn hàng phượng vĩ / Đứng lặng giữa thu vàng".
Câu 4 (1,0 điểm). Nêu sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung bài thơ, anh/chị rút ra bài học gì về tình bạn và quê hương? (Trình bày khoảng 5–7 dòng.)
Phần II. Viết (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của anh/chị về hình ảnh hàng phượng vĩ trong bài thơ ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) so sánh, đánh giá cảm hứng về mùa thu trong bài thơ Thu về trên phố nhỏ ở phần Đọc hiểu và bài thơ sau:
CHIỀU THU
(Thơ sáng tác phục vụ ôn tập — nằm ngoài sách giáo khoa)
Chiều thu mây tím biếc
Sông lặng trôi êm đềm
Con đò ngang bến vắng
Chở hoàng hôn về đêm
Người lữ thứ dừng bước
Ngắm cảnh cũ quê nhà
Lòng bỗng dưng xao xuyến
Nhớ mẹ, nhớ cha già
Đáp án và lời giải chi tiết đề số 1
Câu 1.
→ Đáp án: Văn bản được viết theo thể thơ năm chữ.
Giải thích: Dấu hiệu nhận biết: mỗi dòng thơ đều có đúng 5 tiếng — ví dụ dòng 1 "Thu / về / trên / phố / nhỏ" (5 tiếng), dòng 2 "Lá / vàng / rơi / đầy / sân" (5 tiếng). Đây là thể thơ các bạn đã học kĩ ở Bài 2 (Những thế giới thơ). Bài học: đừng đoán thể thơ theo cảm tính, hãy đếm số tiếng thực tế của từng dòng thơ.
Câu 2.
→ Đáp án: Các từ ngữ, hình ảnh miêu tả mùa thu ở khổ 1: "lá vàng rơi đầy sân", "gió heo may se lạnh".
Giải thích: "Lá vàng" là hình ảnh đặc trưng của mùa thu (lá chuyển màu, rụng); "gió heo may se lạnh" là thứ gió đặc trưng của mùa thu miền Bắc. Hai hình ảnh này dựng lên khung cảnh thu vừa đẹp vừa man mác buồn — làm nền cho nỗi nhớ ở các khổ sau. Khi trả lời, cần chỉ ra từ ngữ cụ thể rồi nêu ý nghĩa gợi tả của chúng, không chỉ liệt kê.
Câu 3.
→ Đáp án: Biện pháp nhân hoá: hàng phượng vĩ được gán hành động, trạng thái của con người — "đứng lặng" (như người đang trầm tư, chờ đợi).
Giải thích: Làm đủ 3 lớp: gọi tên (nhân hoá) → chỉ ra từ ngữ ("đứng lặng") → nêu tác dụng. Về nội dung: hàng phượng vĩ hiện lên có hồn, như một người bạn thuỷ chung đứng đó chứng kiến bao đổi thay. Về nghệ thuật: tạo hình ảnh giàu sức gợi, làm cầu nối giữa cảnh vật và tâm trạng con người. Về cảm xúc: gợi nỗi niềm bâng khuâng, sự gắn bó với quê hương — cây phượng "đứng lặng" cũng như lòng người đang lặng đi trước thời gian.
Câu 4.
→ Đáp án: Cảm xúc của nhân vật trữ tình vận động theo 3 chặng: (1) khổ 1 — man mác, bâng khuâng trước cảnh thu (lá vàng, gió lạnh gợi nhớ); (2) khổ 2 — trăn trở, xót xa khi nghĩ về bạn bè mỗi người một phương ("người đi xây đất mới / kẻ ở lại quê sâu"); (3) khổ 3 — lắng đọng thành lời nhắc nhở chính mình: đừng quên quê hương ("đừng quên bến đò ngang").
Giải thích: Đây là câu thông hiểu đòi hỏi nắm mạch cảm xúc (kiến thức Bài 2). Trả lời phải chỉ ra sự chuyển biến qua từng khổ, không được kể lể chung chung. Mạch cảm xúc đi từ cảnh → tình → lí: từ cảnh thu gợi tình bạn, rồi nâng lên thành triết lí về quê hương.
Câu 5.
→ Đáp án (gợi ý): Bài học em rút ra: tình bạn và quê hương là hai giá trị thiêng liêng cần trân trọng, giữ gìn. Dù cuộc sống có đưa mỗi người đi một phương ("người đi xây đất mới / kẻ ở lại quê sâu"), đừng để khoảng cách địa lí làm phai nhạt tình bạn thuở học trò, và đừng bao giờ quên nơi mình sinh ra ("đừng quên bến đò ngang"). Hãy sống sao cho xứng đáng với quê hương bằng những việc làm cụ thể: học tập tốt, khi thành đạt nhớ về nguồn cội.
Giải thích: Câu vận dụng cao — bài học phải xuất phát từ ngữ liệu (hình ảnh bạn bè, bến đò ngang) và hướng đến hành động của bản thân. Viết đúng 5–7 dòng, diễn đạt thành câu hoàn chỉnh. Tránh trả lời sáo rỗng kiểu "em sẽ yêu quê hương" mà không gắn với chi tiết nào trong bài.
Câu 1 phần Viết (đoạn văn 200 chữ) — gợi ý:
→ Đáp án (dàn ý): Mở đoạn — giới thiệu hình ảnh hàng phượng vĩ xuất hiện ở khổ cuối như một điểm nhấn. Thân đoạn — phân tích 3 lớp: (1) hình ảnh thực: cây phượng quen thuộc của sân trường, gắn với tuổi học trò; (2) hình ảnh nhân hoá: "đứng lặng" — như người bạn thuỷ chung, lặng lẽ chứng kiến bao thế hệ học trò đi qua; (3) ý nghĩa biểu tượng: phượng vĩ là biểu tượng của quê hương, của kỉ niệm — "đứng lặng giữa thu vàng" như lời nhắc nhở đừng quên nguồn cội. Kết đoạn — cảm nghĩ: hình ảnh ấy khiến em xúc động, tự nhắc mình phải trân trọng quê hương.
Giải thích: Đoạn văn 200 chữ chấm theo: đúng yêu cầu đề (cảm nhận về hình ảnh hàng phượng vĩ) 0,5đ; có dẫn chứng và phân tích 3 lớp 1,0đ; diễn đạt mạch lạc 0,5đ. Lưu ý không kể lại bài thơ, phải là cảm nhận, phân tích.
Câu 2 phần Viết (bài văn so sánh 500 chữ) — dàn ý gợi ý:
- Mở bài: giới thiệu hai bài thơ cùng viết về mùa thu nhưng ở hai không gian, hai tâm trạng khác nhau — Thu về trên phố nhỏ (phố thị, nỗi nhớ bạn bè) và Chiều thu (quê nhà, nỗi nhớ mẹ cha). Nêu luận đề: cùng là cảm hứng thu nhưng mỗi bài thơ có một "thế giới" riêng.
- Dẫn dắt từ đặc trưng của thơ: cùng một đề tài, mỗi nhà thơ tạo ra một thế giới cảm xúc riêng.
- Thân bài:
- Điểm tương đồng: (1) cùng lấy mùa thu làm nền — lá vàng, gió heo may, hoàng hôn; (2) cùng là thơ năm chữ, giọng điệu trầm lắng, man mác; (3) cùng từ cảnh thu gợi nỗi nhớ — nhớ bạn, nhớ quê, nhớ mẹ cha. → Chứng tỏ mùa thu là "mùa của nỗi nhớ" trong tâm thức người Việt.
- Điểm khác biệt: (1) Không gian — Thu về trên phố nhỏ: phố thị, sân trường, hàng phượng (không gian tuổi trẻ); Chiều thu: bến sông, con đò, quê nhà (không gian làng quê). (2) Đối tượng của nỗi nhớ — bài 1 nhớ bạn bè ("bạn bè giờ nơi đâu"), bài 2 nhớ mẹ cha ("nhớ mẹ, nhớ cha già"). (3) Hình ảnh trung tâm — bài 1: hàng phượng vĩ (biểu tượng tuổi học trò, sự thuỷ chung); bài 2: con đò (biểu tượng quê hương, sự chờ đợi). (4) Triết lí — bài 1 hướng tới lời nhắc nhở đừng quên nguồn cội; bài 2 là nỗi xao xuyến trước tình thân.
- Đánh giá: cả hai bài thơ đều thành công khi biến cảnh thu thành "tấm gương" soi tâm hồn con người. Thu về trên phố nhỏ sâu sắc ở tính triết lí; Chiều thu cảm động ở tình cảm gia đình chân thành. Mỗi bài một vẻ, đều xứng đáng là những vần thơ đẹp về mùa thu.
- Kết bài: khẳng định sức sống của thơ viết về mùa thu; liên hệ bản thân — mỗi mùa thu đi qua, em thêm trân trọng những người thân yêu bên cạnh mình.
Lưu ý chấm bài so sánh: phải có cả tương đồng và khác biệt (thiếu một vế là mất nửa số điểm nội dung); mỗi luận điểm phải có dẫn chứng cụ thể từ cả hai bài thơ; phần đánh giá là bắt buộc (đúng yêu cầu "so sánh, đánh giá" của đề).
| Câu | Nội dung đáp án tóm tắt |
|---|---|
| 1 | Thể thơ năm chữ (mỗi dòng 5 tiếng) |
| 2 | "lá vàng rơi đầy sân", "gió heo may se lạnh" |
| 3 | Nhân hoá "đứng lặng" — phượng vĩ như người bạn thuỷ chung |
| 4 | Bâng khuâng → trăn trở → lắng đọng (cảnh → tình → lí) |
| 5 | Trân trọng tình bạn và quê hương; đừng quên nguồn cội |
Đề thi mẫu số 2 (cấu trúc 4,0 + 6,0)
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 1
Môn: Ngữ văn 12 — Kết nối tri thức
Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
TUỔI TRẺ VÀ KHÁT VỌNG
(Văn bản sáng tác phục vụ ôn tập — nằm ngoài sách giáo khoa)
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, nhưng cũng là quãng thời gian dễ lãng phí nhất. Có người dùng tuổi trẻ để học tập, rèn luyện, dấn thân vì những mục tiêu lớn lao. Nhưng cũng có không ít bạn trẻ để tuổi trẻ trôi qua trong những cuộc vui vô bổ, trong sự lười biếng và tâm lí "để mai tính".
Khát vọng chính là ngọn đuốc soi đường cho tuổi trẻ. Người có khát vọng sẽ biết mình muốn gì, cần làm gì để đạt được điều đó. Khát vọng không phải là mơ mộng viển vông, mà là mục tiêu cụ thể được nuôi dưỡng bằng ý chí và hành động mỗi ngày. Như nhà khoa học trẻ Nguyễn Thị Lan đã từng chia sẻ: "Ước mơ chỉ thành hiện thực khi bạn dám bắt đầu từ những việc nhỏ nhất."
Tuy nhiên, trên con đường theo đuổi khát vọng, tuổi trẻ sẽ gặp không ít thất bại. Điều quan trọng không phải là ngã bao nhiêu lần, mà là đứng dậy bao nhiêu lần. Mỗi thất bại là một bài học, mỗi vấp ngã là một bước trưởng thành — miễn là bạn không bỏ cuộc.
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định luận đề của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn văn thứ hai.
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Khát vọng chính là ngọn đuốc soi đường cho tuổi trẻ."
Câu 4 (1,0 điểm). Anh/Chị hiểu như thế nào về câu nói: "Điều quan trọng không phải là ngã bao nhiêu lần, mà là đứng dậy bao nhiêu lần."?
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung văn bản, anh/chị rút ra bài học gì cho bản thân về việc theo đuổi ước mơ? (Trình bày khoảng 5–7 dòng.)
Phần II. Viết (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của khát vọng đối với tuổi trẻ (dựa vào văn bản ở phần Đọc hiểu).
Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: Tuổi trẻ với việc theo đuổi ước mơ trong thời đại hôm nay.
Đáp án và lời giải chi tiết đề số 2
Câu 1.
→ Đáp án: Luận đề của văn bản: tuổi trẻ cần có khát vọng và ý chí để theo đuổi khát vọng đó, không lãng phí tuổi xuân.
Giải thích: Luận đề là vấn đề trung tâm mà văn bản bàn luận (kiến thức Bài 3). Cả ba đoạn văn đều xoay quanh mối quan hệ giữa tuổi trẻ – khát vọng – hành động: đoạn 1 đặt vấn đề (tuổi trẻ dễ lãng phí), đoạn 2 nêu giải pháp (khát vọng là ngọn đuốc), đoạn 3 bàn về thái độ trước thất bại. Khi xác định luận đề, hãy tìm câu chủ đề hoặc ý tưởng xuyên suốt cả văn bản, diễn đạt ngắn gọn trong một câu.
Câu 2.
→ Đáp án: Thao tác lập luận chính trong đoạn 2 là giải thích (kết hợp chứng minh).
Giải thích: Đoạn văn làm rõ khái niệm "khát vọng" là gì ("không phải là mơ mộng viển vông, mà là mục tiêu cụ thể..."), giải thích vai trò của khát vọng ("ngọn đuốc soi đường"), rồi dùng dẫn chứng (lời chia sẻ của nhà khoa học trẻ) để chứng minh. Đây là thao tác các bạn đã học ở Bài 3 (Lập luận trong văn bản nghị luận). Phân biệt: giải thích = làm rõ khái niệm; chứng minh = dùng dẫn chứng; phân tích = chia nhỏ vấn đề; bình luận = bày tỏ quan điểm.
Câu 3.
→ Đáp án: Biện pháp tu từ so sánh: khát vọng được so sánh với "ngọn đuốc" (dấu hiệu: từ "là" trong cấu trúc so sánh ngầm).
Giải thích: Làm đủ 3 lớp: gọi tên (so sánh) → chỉ ra hình ảnh (khát vọng – ngọn đuốc soi đường) → nêu tác dụng. Về nội dung: nhấn mạnh vai trò dẫn đường, soi sáng của khát vọng đối với tuổi trẻ — không có khát vọng, tuổi trẻ sẽ lạc lối trong bóng tối. Về nghệ thuật: hình ảnh cụ thể, giàu sức gợi, dễ đi vào lòng người. Đây là kiểu so sánh ngầm (không có từ "như"), các bạn cần nhận diện qua mối quan hệ tương đồng giữa hai sự vật.
Câu 4.
→ Đáp án: Câu nói khẳng định giá trị của ý chí, sự kiên trì quan trọng hơn số lần thất bại.
Giải thích: "Ngã" là hình ảnh ẩn dụ cho thất bại, vấp ngã; "đứng dậy" là hình ảnh ẩn dụ cho ý chí vươn lên, không bỏ cuộc. Câu nói thể hiện triết lí: thất bại là điều không thể tránh khỏi trên đường đời, nhưng điều quyết định thành công không phải là bạn tránh được bao nhiêu thất bại, mà là bạn có đủ dũng khí để đứng dậy sau mỗi lần ngã hay không. Liên hệ: đây chính là tinh thần của năng lực sáng tạo (Bài 3) — dám thử, dám sai, dám làm lại. Khi trả lời câu "hiểu như thế nào", cần giải mã hình ảnh rồi nêu triết lí và liên hệ bản thân.
Câu 5.
→ Đáp án (gợi ý): Bài học em rút ra: hãy xác định cho mình một khát vọng rõ ràng và kiên trì theo đuổi nó bằng hành động mỗi ngày. Đừng để tuổi trẻ trôi qua trong lười biếng và những cuộc vui vô bổ ("để mai tính"). Khi gặp thất bại, đừng nản lòng — hãy coi đó là bài học để trưởng thành. Bắt đầu từ những việc nhỏ nhất ngay hôm nay: học tập chăm chỉ, rèn luyện kĩ năng, dấn thân vào các hoạt động có ích.
Giải thích: Câu vận dụng cao — bài học phải xuất phát từ văn bản (khát vọng, thất bại, hành động) và hướng đến việc làm cụ thể của bản thân. Viết đúng 5–7 dòng. Tránh hô khẩu hiệu chung chung; càng cụ thể càng được điểm cao.
Câu 1 phần Viết đề 2 (đoạn văn 200 chữ) — gợi ý:
→ Đáp án (dàn ý): Mở đoạn — khẳng định khát vọng có vai trò quyết định đối với tuổi trẻ (như ngọn đuốc soi đường). Thân đoạn — phân tích 3 vai trò: (1) định hướng: giúp người trẻ biết mình muốn gì, tránh lạc lối giữa vô vàn lựa chọn; (2) động lực: biến thành năng lượng hành động mỗi ngày, vượt qua lười biếng; (3) điểm tựa tinh thần: khi thất bại, khát vọng giúp ta đứng dậy thay vì bỏ cuộc. Dẫn chứng: lời chia sẻ "ước mơ chỉ thành hiện thực khi bạn dám bắt đầu từ những việc nhỏ nhất". Kết đoạn — liên hệ: em sẽ nuôi dưỡng khát vọng của mình bằng hành động cụ thể từ hôm nay.
Giải thích: Đoạn văn NLXH 200 chữ cần luận điểm rõ ràng + lí lẽ + dẫn chứng + liên hệ bản thân. Không được viết lan man; mỗi câu phải phục vụ luận điểm.
Câu 2 phần Viết đề 2 (bài văn NLXH 600 chữ) — dàn ý gợi ý:
- Mở bài: giới thiệu vấn đề — trong thời đại công nghệ, hội nhập, tuổi trẻ đứng trước vô vàn cơ hội nhưng cũng vô vàn cám dỗ; việc theo đuổi ước mơ trở thành thách thức lớn. Nêu luận đề: tuổi trẻ hôm nay cần khát vọng rõ ràng + hành động kiên trì + bản lĩnh trước thất bại.
- Có thể mở bài bằng dẫn chứng: câu chuyện của một bạn trẻ khởi nghiệp thành công hoặc một tấm gương vượt khó.
- Thân bài:
- Giải thích: "ước mơ" là mục tiêu, khát vọng tốt đẹp mà con người muốn đạt tới; "theo đuổi ước mơ" là quá trình nỗ lực bằng hành động cụ thể để biến ước mơ thành hiện thực.
- Bàn luận – mặt tích cực: (1) ước mơ cho tuổi trẻ định hướng và động lực — người có ước mơ không lãng phí thời gian; dẫn chứng: các nhà khoa học trẻ, vận động viên, nghệ sĩ thành công đều bắt đầu từ ước mơ; (2) theo đuổi ước mơ giúp tuổi trẻ trưởng thành — qua thất bại mà cứng cỏi hơn; (3) ước mơ của mỗi cá nhân góp phần vào sự phát triển của đất nước — tuổi trẻ là tương lai dân tộc.
- Bàn luận – mặt trái (phê phán): một bộ phận bạn trẻ sống không ước mơ — lười biếng, nghiện game, "để mai tính"; hoặc ước mơ viển vông — chỉ mơ mà không hành động; hoặc gục ngã trước thất bại đầu tiên. Phê phán thái độ sống thụ động, hưởng thụ.
- Bài học – giải pháp: (1) xác định ước mơ phù hợp với năng lực và đam mê; (2) chia ước mơ lớn thành mục tiêu nhỏ mỗi ngày; (3) kiên trì trước thất bại — coi thất bại là bài học; (4) cân bằng giữa ước mơ cá nhân và trách nhiệm với gia đình, xã hội.
- Kết bài: khẳng định lại vai trò của ước mơ; lời nhắn nhủ — tuổi trẻ chỉ đến một lần, hãy sống sao cho không phải hối tiếc; liên hệ bản thân em sẽ làm gì từ hôm nay.
| Câu | Nội dung đáp án tóm tắt |
|---|---|
| 1 | Luận đề: tuổi trẻ cần khát vọng và ý chí theo đuổi, không lãng phí tuổi xuân |
| 2 | Thao tác giải thích (kết hợp chứng minh) ở đoạn 2 |
| 3 | So sánh ngầm: khát vọng – ngọn đuốc soi đường |
| 4 | Triết lí về ý chí: quan trọng là đứng dậy sau vấp ngã |
| 5 | Xác định khát vọng rõ ràng, hành động mỗi ngày, không bỏ cuộc |
Phương pháp làm bài thi Ngữ văn 12 hiệu quả
Cách làm phần Đọc hiểu (4,0 điểm)
Bước 1 — Đọc lướt ngữ liệu (3 phút): xác định thể loại (thơ hay văn xuôi), đề tài, cảm xúc chủ đạo. Gạch chân từ khóa quan trọng.
Bước 2 — Đọc kĩ từng câu hỏi (2 phút): phân loại câu hỏi theo mức độ — nhận biết (thể thơ, từ ngữ, luận đề), thông hiểu (BPTT, thao tác lập luận, mạch cảm xúc), vận dụng (bài học, liên hệ). Làm từ dễ đến khó.
Bước 3 — Trả lời theo công thức 3 lớp (20 phút): với câu hỏi về biện pháp tu từ: gọi tên → chỉ ra từ ngữ → nêu tác dụng (với nội dung và nghệ thuật). Với câu hỏi về nội dung: trích dẫn → phân tích → đánh giá. Tuyệt đối không trả lời cụt lủn một dòng.
Bước 4 — Câu vận dụng (5 phút): bài học phải xuất phát từ ngữ liệu, hướng đến hành động cụ thể, viết đúng số dòng yêu cầu (5–7 dòng).
Cách làm phần Viết (6,0 điểm)
Đoạn văn 200 chữ (2,0 điểm) — 20 phút: cấu trúc mở đoạn (1–2 câu) → thân đoạn (phân tích 2–3 ý, mỗi ý có dẫn chứng) → kết đoạn (1–2 câu, liên hệ). Đếm sơ số dòng để ước lượng ~200 chữ (khoảng 12–15 dòng vở). Không viết quá dài (mất thời gian) hay quá ngắn (thiếu ý).
Bài văn 500–600 chữ (4,0 điểm) — 40 phút:
- Với dạng so sánh, đánh giá hai tác phẩm: bắt buộc có cả tương đồng và khác biệt, mỗi luận điểm có dẫn chứng từ cả hai tác phẩm, kết thúc bằng đánh giá (tác phẩm nào thành công hơn ở điểm nào, vì sao). Lập dàn ý 5 phút trước khi viết.
- Với dạng NLXH: đi đủ các bước giải thích → bàn luận (tích cực + phê phán mặt trái) → bài học/giải pháp → kết bài liên hệ. Dẫn chứng phải cụ thể, thời sự (người thật việc thật), tránh dẫn chứng chung chung kiểu "có rất nhiều tấm gương".
- 5 phút cuối: đọc lại toàn bài — kiểm tra chính tả, yêu cầu đề, số chữ; sửa lỗi tẩy xoá.
Năm lỗi mất điểm oan thường gặp
Lỗi 1: Trả lời câu BPTT thiếu 3 lớp. Chỉ gọi tên biện pháp ("nhân hoá") mà không chỉ ra từ ngữ và nêu tác dụng → mất 0,5–0,7 điểm. Cách tránh: thuộc lòng công thức gọi tên → chỉ ra → nêu tác dụng.
Lỗi 2: Bài văn so sánh chỉ nêu khác biệt, quên tương đồng (hoặc ngược lại). Cách tránh: dàn ý phải có hai mục riêng — "điểm giống nhau" và "điểm khác nhau" — rồi mới đến "đánh giá".
Lỗi 3: Đoạn văn 200 chữ viết thành bài văn thu nhỏ. Lan man, đủ mở-thân-kết của bài văn dài → vừa mất thời gian vừa lạc đề. Cách tránh: đoạn văn chỉ cần một luận điểm trung tâm, triển khai gọn trong 12–15 dòng.
Lỗi 4: Dẫn chứng NLXH chung chung, sáo rỗng. Viết "có nhiều tấm gương vượt khó thành công" mà không nêu tên ai → giám khảo không cho điểm dẫn chứng. Cách tránh: chuẩn bị sẵn 3–5 dẫn chứng cụ thể (tên người, câu chuyện) trước khi vào phòng thi.
Lỗi 5: Quên liên hệ bản thân ở kết bài. Bài văn NLXH và câu vận dụng đọc hiểu đều cần cái "tôi" của người viết. Cách tránh: luôn kết thúc bằng một câu liên hệ — "em sẽ...", "bản thân em nhận ra...".
Lịch ôn tập 2 tuần trước kỳ thi
| Ngày | Nội dung ôn tập | Việc cần làm |
|---|---|---|
| Ngày 1–2 | Bài 1: tri thức tiểu thuyết + 2 trích đoạn | Tóm tắt cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật trào phúng/dòng ý thức |
| Ngày 3–4 | Bài 2: tri thức thơ + 3 bài thơ | Thuộc ý chính từng bài thơ; luyện so sánh Cảm hoài – Tây Tiến |
| Ngày 5–6 | Bài 3: lập luận + 2 văn bản NL | Nắm luận đề – luận điểm – lí lẽ – bằng chứng; tập viết đoạn NLXH |
| Ngày 7 | Bài 4 + Bài 5: kì ảo + hài kịch | Nắm tác dụng yếu tố kì ảo; thủ pháp gây cười; TH TV 5 bài |
| Ngày 8–9 | Luyện đề Đọc hiểu | Làm 4–5 ngữ liệu ngoài SGK, bấm giờ 30 phút/ngữ liệu |
| Ngày 10–11 | Luyện Viết: đoạn văn 200 chữ | Viết 4 đoạn văn các chủ đề, nhờ thầy cô/bạn chữa |
| Ngày 12 | Làm Đề thi mẫu số 1 | Bấm giờ đúng 90 phút, chấm điểm, ghi lỗi sai vào sổ |
| Ngày 13 | Làm Đề thi mẫu số 2 + chữa lỗi | Bấm giờ 90 phút; ôn lại toàn bộ lỗi đã ghi trong sổ |
| Ngày 14 | Tổng ôn nhẹ nhàng | Đọc lại tóm tắt 5 bài, dàn ý 2 dạng văn, nghỉ sớm |
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Đề thi học kì 1 Ngữ văn 12 có khó không?
Không đánh đố nếu bạn ôn đúng trọng tâm. Ngữ liệu 100% ngoài SGK nhưng kĩ năng làm bài thì 100% trong SGK — đọc hiểu thơ/văn xuôi, viết đoạn văn, viết bài văn so sánh hoặc NLXH. Nắm chắc 5 bài học kì 1 và luyện đủ 2 đề mẫu trong bài này, bạn hoàn toàn có thể đạt 7–8 điểm.
Có cần học thuộc lòng các tác phẩm trong SGK không?
Không cần học thuộc lòng, nhưng phải nắm chắc nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của từng văn bản để vận dụng khi so sánh, đánh giá và làm dẫn chứng. Riêng các khái niệm (luận đề, BPTT, thể loại) thì phải thuộc chính xác.
Ngữ liệu đọc hiểu có ra văn bản trong SGK không?
Theo chương trình GDPT 2018, ngữ liệu kiểm tra đánh giá phải ngoài SGK. Vì vậy đề thi sẽ cho thơ/văn xuôi mới hoàn toàn — nhưng dạng câu hỏi thì quen thuộc như các bạn đã luyện. Đừng học tủ văn bản, hãy luyện kĩ năng.
Bài văn so sánh và bài văn NLXH, dạng nào dễ được điểm cao hơn?
Tuỳ sở trường. Dạng so sánh dễ lấy điểm nếu bạn nắm chắc dẫn chứng hai tác phẩm và làm đủ 3 phần (tương đồng – khác biệt – đánh giá). Dạng NLXH dễ viết nhưng khó hay — cần dẫn chứng cụ thể, thời sự và liên hệ chân thành. Hãy luyện cả hai.
Nên phân bổ 90 phút làm bài như thế nào?
Gợi ý: Đọc hiểu 25–30 phút (đọc lướt 3 phút + trả lời 22–27 phút); đoạn văn 200 chữ 20 phút (5 phút dàn ý + 15 phút viết); bài văn 500–600 chữ 40 phút (5–7 phút dàn ý + 30 phút viết + 5 phút đọc lại). 5 phút cuối kiểm tra toàn bài.
Kết luận
Kì thi học kì 1 Ngữ văn 12 không kiểm tra trí nhớ mà kiểm tra năng lực đọc hiểu và viết của các bạn — hai năng lực sẽ theo các bạn đến kì thi tốt nghiệp THPT và xa hơn nữa. 5 bài học kì 1 (tiểu thuyết, thơ, nghị luận, truyện kì ảo, hài kịch) chính là 5 "vũ khí" giúp các bạn tự tin trước mọi ngữ liệu mới.
Hãy in 2 đề thi mẫu trong bài ra, bấm giờ làm nghiêm túc rồi đối chiếu đáp án và lời giải chi tiết để rút kinh nghiệm. Chúc các bạn ôn tập hiệu quả và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới! Đừng quên theo dõi thêm các tài liệu ôn tập tại chuyên mục Tin tức – ClassOn và thử sức với máy tính Casio online miễn phí để tính toán nhanh khi làm các môn tự nhiên nhé!